Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

CÁC THẾ YOGA TẬP LUYỆN CƠ THỂ MỖI NGÀY RẤT TỐT

CÁC THẾ YOGA (ASANA)

Yoga là một khoa học trị liệu cổ xưa đã được thử nghiệm và tinh lọc qua hàng ngàn năm. Nó là một chuỗi các bài tập giúp con người một phương cách sống lành mạnh và hợp tự nhiên .Yoga nguyên thủy là những bài tập thể dục bất động được chia ra hàng trăm thế đứng, thế nằm, hay thế ngồi và không mang theo một tư tưởng tôn giáo nào. Yoga không chỉ giảm căng thẳng, người trẻ trung, vui vẻ , phòng và chữa một số bệnh mà còn tạo vóc dáng đẹp. Dù có tác dụng chậm hơn so với trí não nhưng yoga vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và cải tạo vóc dáng. Khi tập các động tác yoga, nguồn năng lượng thừa tiêu hao dần nhưng lại không thấy đói, không thèm ăn, trái lại với người gầy, khi đã đạt đến mức cân bằng thì sẽ nảy sinh nhu cầu cần cung cấp năng lượng nhiều. Yoga có sự điều chỉnh tùy theo thể trạng từng người, điều phối được cả lượng mỡ trong cơ thể, nơi nào cần thì đắp vào, sẽ lấy đi nơi nào thừa. Đây là lợi ích mà không phải môn thể dục nào cũng làm được.


Tập Yoga bao gồm:
1/ Khởi động và các bài tập hít thở – học cách thở đúng. Yoga nhấn mạnh đến việc thở đúng phương pháp để có được tối đa lượng sinh lực hấp thụ vào trong mỗi hơi thở.
Bước đầu cơ bản là:
Hít, thở: Chậm, đều và sâu.
Thở ra: Hóp bụng dưới vào (phần rún).
Hít vào: Phình bụng dưới ra.
Giai đoạn từ hít qua thở, từ thở qua hít: Nín hơi (vừa đủ ở mức không thấy khó chịu).
Trong khi tập các tư thế ngoài các trường hợp ngoại lệ: các động tác đưa ra trước, kéo vào trong hoặc vặn mình thì THỞ RA; các động tác căng giản hay mở rộng lồng ngực, thì HÍT VÀO. Ngưng nghỉ hay thư giản đều THỞ RA. Nín hơi phần lớn sau khi THỞ RA.

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

QUY TRÌNH KĨ THUẬT CẤY CHỈ (Chôn chỉ)


 (BS.CKII. Trương Tấn Hưng - Trưởng khoa châm cứu – PHCN - Bệnh viện YHCT Bắc Giang - Điện thoại: 098.6.534.381 – Email: truongtanhung1960@gmail.com) 
I. Định nghĩa: 
Cấy chỉ (Chôn chỉ, 埋线疗法) là phương pháp đưa một đoạn chỉ Catgut vào huyệt vị thích ứng với bệnh tật, gây kích thích liên tục ở kinh huyệt để chữa bệnh. Đây là một phương pháp mới áp dụng tiến bộ của khoa học, kỹ thuật trên cơ sở kế thừa những lý luận và kinh nghiệm chữa bệnh của châm cứu. Đoạn chỉ Catgut tại huyệt trong suốt quá trình tự tiêu sẽ thường xuyên kích thích lên huyệt như khi ta dùng kim châm cứu để kích thích và sẽ phát huy tác dụng chữa bệnh của huyệt đó. Trong quá trình tự tiêu, do bản chất là một protein nên đoạn chỉ còn tạo ra một phản ứng sinh – hóa học với cơ thể và tạo ra tác dụng chữa bệnh.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Chữa sâu răng

Sáu bài thuốc đơn giản chữa đau răng:

6 bai thuoc don gian chua dau rang
Lá trầu chứa chất kháng khuẩn khá mạnh.
Lấy 2 hay 3 lá trầu không, giã nhỏ cùng dăm hạt muối rồi hòa với 1 chén rượu, sau 10 phút thì gạn lấy nước trong. Chia 2 lần súc miệng kỹ rồi nhổ hết ra (cấm uống). Kinh nghiệm cho thấy, chỉ cần súc miệng 2 lần (cách nhau khoảng 5 phút) là răng hết đau.
Có người đã cải tiến bài thuốc này thành thứ thuốc dùng dần như sau: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng mỗi thứ 50 g; rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng, đem đun cách thủy (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi), cho sôi trong 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (có súc miệng) trong 5-10 phút hoặc dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi.
Sau đây là 5 bài thuốc khác:
- Vỏ xoài 3 miếng cỡ bàn tay cạo bỏ phần vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sắc với 3 bát nước đến khi còn 2 bát; cứ 3 phần nước thì thêm 1 phần rượu, cho vào chai dùng dần. Mỗi lần lấy 1 chén con, ngậm khoảng 10 phút, thỉnh thoảng súc miệng rồi nhổ đi. Ngày dùng 4 lần vào buổi sáng, tối (trước khi đi ngủ) và sau 2 bữa ăn chính.
Hoặc: Vỏ thân cây xoài 3 phần, quả me chua 1 phần, quả bồ kết 1 phần. Tất cả sấy khô, tán nhỏ, lấy đầu tăm chấm thuốc vào chỗ răng đau. Nhiều trường hợp đau răng sưng hết mồm miệng đã khỏi khi dùng bài này. Có người gọi đây là “thuốc thánh chữa đau răng”.
- Rễ rau dền đốt tồn tính, đem tán nhỏ, xát vào hàm răng, sau một lúc sẽ hết đau (theo Thực trị bản thảo của Trung Quốc).
- Lấy 20-30 g rễ bí ngô sắc nước uống (Thực trị bản thảo)
- Xương đùi gà trống 1 đôi (lấy khi mới làm thịt) đem đốt tồn tính (gần thành than), tán thành bột mịn. Hồ tiêu sao giòn, tán thành bột (lượng bằng xương gà). Hai thứ trộn đều, xát vào chỗ chân răng chảy máu hoặc chỗ bị sâu. Thuốc có tác dụng chữa chảy máu chân răng, sâu răng.
- Bột phèn phi 30 g, đại hồi 10 g, kê nội kim (màng mề gà) đốt tồn tính 10 g. Cả 3 vị tán thành bột mịn, trộn đều, cho vào lọ nút kín, dùng dần. Khi dùng, xát bột thuốc vào chỗ răng sâu hoặc chỗ lợi viêm tấy, chảy máu.
Lương y Huyên ThảoNông Nghiệp Việt Nam
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

Tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống

Tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống
5tigers-1
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con Hổ là con vật đã từ lâu được tôn thờ. Và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là Ông. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy… có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ v.v… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa.

Vận khí trong Y học cổ truyền


Tập tài liệu này gồm hai phần "Quy luật thời khí chính là học thuyết Ngũ Vận - Lục Khí, và "Biện chứng luận trị về bệnh thời khí chính là bài giảng ôn nhiệt bệnh biện chứng luận trì (nay thường gọi là bệnh sốt thời khí).Hai nội dung trên là hai phần rất chính yếu trong hệ thống lý luận y học cổ truyền Phương Đông.

Một là nói về nguyên nhân của những bệnh sốt dịch hàng năm do khí hậu mỗi năm khác nhau làm cho loại hình bệnh cũng eo khác nhau, nhưng nói chung không ngoài quy luật nhất định. Một nữa nói về diễn biến bệnh của từng loại hình và phương pháp chẩn đoán, phương pháp điều trị cho từng loại hình.

Bài I: MỞ ĐẦU

Học thuyết Ngũ Vận - Lục Khí là một môn lý luận về quy luật biến đổi khí hậu theo năm, theo mùa tiết tương ứng với biến đổi ở vạn vật, là một môn học có phạm vi ứng dụng rất rộng, nhưng trước hết và nhiều nhất là trong Y học cổ Phương Đông. Chúng ta thấy môn học này đều có trong các bộ sách Y học cổ Việt Nam và Trung Quốc, như Hoàng đế Nội Kinh, Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư,
Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, Ngư Tiều Vấn đáp Y Thuật, Lang y khái luận v.v...
Đối với Y học, học thuyết Ngũ Vận - Lục Khí có giá trị như một quy luật dự báo thời bệnh học, trên cơ sở tương ứng giữa tên của năm theo niên can, niên chi với tên khí, tên vận, và tương ứng giữa tên khí, tên vận với diễn biến bệnh lý trong các tạng phủ, kinh lạc trên cơ thể con người. Nó có một trình tự diễn biến rất nghiêm ngặt, công thức tính toán rất phức tạp, do đó chỉ có khi nào được học chu đáo mới có thể sử dụng được, vì thế việc ứng dụng của nó không rộng rãi trong đa số thầy thuốc. Cho nên, như chúng ta đã thấy, ngày nay, công việc chữa bệnh cho nhân dân mới nằm trong phạm vi điều trị triệu chứng là chủ yếu. Công việc dự báo, dự phòng và điều trị nguyên nhân chưa phải lúc nào và ở đâu cũng làm được
Trong thời gian sưu tầm tài liệu để làm bài giảng về học thuyết này, tôi rút ra những điều chính yếu, rồi xếp sắp theo một lối riêng, hy vọng sẽ giúp cho người học dễ nắm được, từ đó, tiến lên có thể được bổ sung để bài giảng sẽ trở thành những bài phổ cập trong đời sống y học và y thuật, phục vụ sức khoẻ của nhân dân trong cả phòng bệnh và chữa bệnh.

Người hùng chữa ung thư - Đề nghị trao giải Nobel cho BS TS Hoàng Xuân Ba

Người hùng chữa ung thư

QĐND - Trong nhiều thập kỷ qua, nhân loại đã chi một khoản tiền khổng lồ để nghiên cứu, khám và điều trị căn bệnh ung thư nhưng kết quả không mấy khả quan. Vậy nhưng, trong những năm qua, có một người Việt Nam đã lặng lẽ nghiên cứu và đã gây sửng sốt cho các nhà khoa học trên thế giới khi công bố cách điều trị ung thư mới.

Sự tình cờ từ hai ca ung thư phổi đầu tiên

Năm 1995, bác sĩ Hoàng Xuân Ba làm việc tại Viện Nhi Lê-nin-grát. Lúc này anh đã khá thành công với công trình nghiên cứu cách điều trị bệnh hen phế quản. Một nữ đồng nghiệp người Nga tại Viện có bố bị bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối cùng tắc nghẽn và tràn dịch màng phổi. Bệnh viện phổi chẩn đoán ông chỉ còn sống từ 1 đến 2 tháng nữa. Người đồng nghiệp đã nhờ bác sĩ Ba điều trị sao cho bệnh nhân dễ thở, đỡ đau để đưa về nhà trong những ngày cuối cùng. Sau khi khám cho bệnh nhân, Hoàng Xuân Ba đưa ra phác đồ điều trị nhưng anh không hề suy nghĩ là để chữa bệnh ung thư phổi. Vì bệnh nhân đau nên bác sĩ Ba đã cho thở bằng khí rung với 20% liều chất gây mê Ketamin, natri Bicarbonate và uống một dung dịch muối khoáng và các chất dinh dưỡng do anh tự pha chế. Đây là phác đồ điều trị mà anh vẫn dùng cho bệnh nhân bị hen suyễn. Thật bất ngờ, bệnh nhân dễ thở và sức khỏe phục hồi nhanh chóng, thậm chí đến tháng thứ 4, thứ 5 còn đòi hút thuốc lá. Tháng thứ 6 đi chụp lại phổi thì kỳ lạ là khối u đã giảm đến 90%, hết hoàn toàn dịch màng phổi. Từ Viện trưởng đến Hội đồng khoa học của Bệnh viện phổi Lê-nin-grát đều rất ngạc nhiên và thừa nhận kết quả hy hữu này.

Tâm thư của Bs Ba gửi các cộng sự của mình

BS.TS Hoàng Xuân Ba

Chào các bác và các anh chị

Hôm nay tôi viết bức thư này, mong các bác và các anh chị đọc và chuyển đến cho các đồng nghiệp (những người đang cùng chúng ta theo đuổi phương pháp chữa bệnh ung thư rất mới mẻ này) để mọi người đồng lòng và làm việc dễ hơn với bệnh nhân. Như vậy sẽ tránh được sự không ưng thuận và thiếu cầu thị đối với công việc mà chúng ta đang làm để giành lại sự sống cho những bệnh nhân ung thư đã tìm đến chúng ta với mong muốn được chữa bệnh theo phương pháp điều trị mới này.

Phần lớn các bệnh nhân đến với chúng ta đều là những bệnh nhân đã đến giai đoạn cuối của bệnh ung thư, diễn biến bệnh diễn ra cực kì nhanh chóng, các triệu chứng biểu hiện rõ rệt, họ đặc biệt bị hành hạ bởi những cơn đau và niềm tin với quá trình điều trị của họ cũng đã giảm nhiều sau khi thử hóa trị liệu và xạ trị liệu. Vì vậy, việc giao tiếp với bệnh nhân và giải thích cho bệnh nhân về đường lối điều trị của chúng ta, tại sao chúng ta làm như thế và kết quả mong đợi của chúng ta là tối quan trọng, giúp họ duy trì niềm tin và tăng khả năng hợp tác giữa người bệnh và bác sĩ. Chúng ta điều trị ung thư theo một đường lối mới không giống như phần lớn các phương pháp đang được áp dụng trên toàn thế giới. Chúng ta sử dụng những dược liệu từ thiên nhiên dể thay đổi cơ thể người bệnh, làm cho cơ thể tự biến đổi và chống lại bệnh tật và làm giảm đau, giảm các triệu chứng do bệnh gây ra, đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho bệnh nhân.

Huyền thoại Hoàng Xuân Ba, Sự kết hợp hoàn hảo giữa Tây y và Nam dược thiên nhiên trong điều trị bệnh bệnh ung thư và nhiều loại bệnh nan y khác

BS. TS Hoàng Xuân Ba - BS trình độ cao nhất về ung thư, miễn dịch, dị ứng, ...

Trích giới thiệu của TS. Stephen Levine, giáo sư di truyền học phân tử và viện trưởng viện nghiên cứu dị ứng, California, USA về phương pháp điều trị ung thư của BS Hoàng Xuân Ba tại hội nghị thế giới lần thứ 4 về Y học Dinh dưỡng tại San Francisco.


BS.TS Hoàng Xuân Ba đã được đào tạo tại St.Petersburg với chuyên khoa ung thư, miễn dịch lâm sàng và nhi khoa. Ông ta là một trong những bác sỹ ở trình độ cao nhất mà tôi được biết. Đặc biệt, những đột phá về điều trị của ông trong những năm gần đây ở Mỹ đã trở thành huyền thoại.

BS. Ba đã chữa thành công ung thư phổi, gan, vú và tiền liệt tuyến với kết quả vượt xa những gì được báo cáo trong các tài liệu y khoa. Tôi đã trực tiếp gặp và nói chuyện với một số bệnh nhân để tự khẳng định về kết quả này. Một số bệnh nhân là bạn, cộng tác viên, và người thân trong gia đình tôi. Trong những trường hợp này, tôi đã chứng kiến sự hồi phục của bệnh nhân bị ung thư thận tiền phát , ung thư phổi đã di căn, ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối và ung thư vú với di căn vào xương mà các bác sỹ đã khuyên bệnh nhân chỉ dùng thuốc giảm đau cho những ngày cuối cùng.

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2012

Bảng 12 tiêu chuẩn Yêu thương

Dưới đây là Bảng kiểm 12 tiêu chuẩn Yêu thương.
Khi nói đến YÊU THƯƠNG - thì đó là một tình cảm trừu tượng, nhưng GS.TSKH Bùi Quốc Châu sẽ giúp chúng ta xác định và thấy rõ được mức độ tình cảm yêu thương mà chúng ta dành cho người khác, từ những người trong gia đình, họ hàng cho đến thân hữu.
Nếu chúng ta có được 12 Điều này, thì đó là tình yêu thương đích thực..

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Việt Y Đạo: dùng Y để tải Đạo



   
Tôn chỉ của Diện Chẩn / Việt Y Đạo là giúp hoàn thiện con người về mặt thể chất lẫn tinh thần để trở thành người có ích cho xã hội và hưởng được hạnh phúc ngay trong cõi trần gian này -
GS TSKH  Bùi Quốc Châu

Xin thưa trước với quí độc giả, chữ ĐẠO ở đây không phải là tôn giáo như đạo Phật, đạo Thiên Chúa... nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử hay về với Chúa ở cõi thiên đàng, mà Đạo ở đây có nghĩa là ĐẠO LÀM NGƯỜI hay một nghệ thuật sống giúp cho con người tiếp cận Chân Thiện Mỹ, sống tốt đẹp hơn, khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn, tự tin hơn, độc lập hơn, tự do hơn, bình an hơn và minh triết hơn, đồng thời bớt tham lam, kiêu ngạo, thành kiến, đua đòi, nịnh hót, ích kỹ, a dua..., ngõ hầu góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở cõi đời này.
Ngay từ ban đầu, có người cho việc làm này là quá cao vọng và khó đạt thành. Thế mà đã hơn 30 năm qua, cứ sau khi kết thúc một khóa học ngắn ngày hay một năm học và thực hành Diện Chẩn /Việt Y Đạo, nhiều học viên – trong cũng như ngoài nước – đã phải thốt lên “Tôi đã đổi đời”, “Thầy đã làm thay đổi cuộc đời, tư tưởng chúng tôi ( change our life, change our mind)”, có nghĩa là đã làm cho họ từ bi quan, chán đời trở nên vui vẻ, yêu đời, từ bệnh hoạn trở nên mạnh khỏe, từ ích kỹ trở nên vị tha...

Tại sao, nhờ đâu tôi có thể làm được điều này chỉ trong một thời gian ngắn (chỉ 1 tháng hay quá lắm là 1 năm), trong khi các bạn đó đã không đạt được những điều vừa kể dù đã cố gắng rất nhiều với nhiều cách khác nhau ngoài Việt Y Đạo.
Đó không phải là phép mầu gì cả, chẳng qua là do chúng tôi đã DÙNG Y ĐỂ TẢI ĐẠO chứ không dùng VĂN (viết) hay THUYẾT (nói) ĐỂ TẢI ĐẠO (TẢI: Chuyên chở.ĐẠO ở đây được hiểu là con đường đi đến Chân Thiện Mỹ). Để cho dễ hiểu, tôi đã chỉ ra con đường cho các học viên đi nhưng tôi cũng cung cấp cho họ phương tiện ( như chiếc xe hơi, chiếc xe gắn máy chẳng hạn) để họ có thể đi trên con đường (Đạo) được nhanh hơn, và đích đến là Chân Thiện Mỹ chứ không phải là Niết bàn hay Thiên đàng – xin các bạn nhớ cho dùm. Đây là điều rất quan trọng mà nhiều học viên chưa hiểu vì các bạn đó không quan tâm đến ĐẠO mà chỉ quan tâm đến THUẬT mà thôi. (Ở phần dưới đây tôi sẽ đề cập đến vấn đề cực kỳ quan trọng này để các bạn khỏi lạc lối khi học những pháp do tôi đề xướng).
Thật ra, các bạn nên yên tâm vì ĐẠO ở đây không phải là cái gì trừu tượng, mơ hồ, xa xôi hay quá khó đạt đến như tu để thành A la hán, thành Phật hay được lên Thiên đàng, khỏi sa địa ngục, hay thoát khỏi sinh tử luân hồi.. ĐẠO  ở đây không xa lắm mà ở ngay trong tầm tay các bạn. Chính vì thế mà khi kết thúc khóa học, đã có nhiều học viên kiểm tra bản thân mình và thấy mình có gần đủ 20 Điều lợi ích mà tôi đã nêu trong giáo trình, như: sức khỏe tốt hơn (bớt hay hết bệnh); an tâm trong cuộc sống so với trước đây; vui vẻ, lạc quan, yêu đời hơn; bớt thành kiến với người khác; biết chia sẻ kinh nghiệm chữa bệnh và giúp người xung quanh được khỏe mạnh.v.v... Tóm lại là họ trở thành con người mới, cải thiện về Thân lẫn Tâm trong một thời gian rất ngắn ( từ 1 tháng đến 1 tháng rưỡi).
Cho nên Việt Y Đạo – trong đó có môn Diện Chẩn và Âm dương khí công – mà các bạn đã nghe nói hoặc theo học không phải là một môn y học thuần túy mà đúng ra nó là một kỹ năng sống hay cao hơn – một nghệ thuật sống giúp các bạn trở thành người tốt đẹp hơn về cả Thân lẫn Tâm, để các bạn có thể hưởng một cuộc sống hạnh phúc, sung sướng trên cõi đời này, chứ không phải là một môn y học, như Đông y hay Tây y, càng không phải là một tôn giáo hay một giáo phái nào cả.

Sở dĩ Diện Chẩn ĐKLP , Âm dương khi công và nhiều phát minh khác của tôi, như Thể dục tự ý, Thai giáo VN, Ẩm thực dưỡng sinh, Thực đạo VN..., cùng được biết đến dưới tên “Việt Y Đạo”, đã được các bạn say mê đến quên ăn bỏ ngủ ( có nhiều người bỏ ra hơn 10 tiếng đồng hồ mỗi ngày để nghiên cứu và thực hành Diện Chẩn) là do tôi dạy cho các bạn Y ĐẠO song song với Y THUẬT Diện Chẩn, từ các phác đồ, các con số huyệt, các dụng cụ xinh xắn, dễ thương..., cũng như qua các Tâm ngôn Diện Chẩn và Triết lý chữ TÙY, còn đươc nhiều học viên gọi là “đạo” Tùy.
Đó là giáo trình và cách dạy hiện nay ở Trung tâm Việt Y Đạo ( hiện ở số 16 Ký Con, P7 Quận Phú Nhuận, trước kia ở số 19 B Phạm Ngọc Thạch ,Q3 TP HCM). Qua cách giảng dạy mới này, tôi đã gặt hái được những kết quả ngoài mong đợi, mà học viên cũng hết sức thoải mái khi học. Lớp học lúc nào cũng vang lên tiếng cười của thầy, trò. Tuy vậy, chỉ sau 1 – 2 tuần học DC, hầu hết các bạn đều đã chữa bệnh được cho chính mình và người khác với kết quả rất khả quan. Và sau 4- 5 tuần học DC và Âm dương khí công, hầu hết ai cũng biết chữa bệnh cho chính mình và người khác, cả cho con vật nuôi, cây cối, bông hoa... trong nhà. Tóm lại cả trò lẫn thầy đều đạt được niềm vui khó tả vì có niềm vui nào lớn bằng khi họ cùng đạt được 3 điều vô cùng quí báu của con người, đó là SỨC KHỎE – HẠNH PHÚC – TRÍ TUỆ (chưa kể nhiều điều khác nữa mà ai học trực tiếp với tôi cũng biết. Muốn biết rõ hơn, mới các bạn vào trang web www.dienchan.com, xem mục “Bài thu hoạch” của học viên các khóa).

Sở dĩ Diện Chẩn có sức thu hút lớn lao như một niềm đam mê đối với các học viên vì nó kết hợp ĐẠO  với THUẬT, có nghĩa là trong Diện Chẩn thì các phác đồ, đồ hình, dụng cụ..., chỉ là THUẬT, còn phần ĐẠO chính là những Tâm ngôn Diện Chẩn, Triết lý chữ TÙY... Căn cứ vào tư tưởng Tam Giáo cộng với sự chiêm nghiệm qua thực tế cuộc sống và kinh nghiệm điều trị, tôi mới viết ra cho học viên đọc, học và vận dụng vào lãnh vực trị bệnh cũng như trong một số lãnh vực ngoài y học, như nhạc, họa, khiêu vũ, thể thao, võ thuật.v.v... Tam Giáo gồm Phật, Lão, Khổng – trong đó có Kinh Dịch, các thuyết Âm dương Ngũ hành, Tam tài, Vạn vật đồng nhất thể.v.v... – từ lâu đã gắn liền với văn hóa Việt và con người Việt chúng ta, nhưng phải nói lả Tam Giáo chưa được vận dụng một cách sâu sắc và sáng tạo như trong môn Diện Chẩn, cho nên nó không gây được sức hút mãnh liệt như tầm cỡ mà tôi đã phân tích ở phần trên.
Nhiều người đã lãng quên việc khai thác, vận dụng kho tàng của cổ nhân (qua tục ngữ, ca dao cũng như sách vở, chuyện kể trong dân gian) để lại cho chúng ta để áp dụng cho nhiều lãnh vực mà chỉ lo tiếp thu cái văn minh vật chất từ phương Tây đem lại. Vẫn biết văn minh Tây phương có cái hay của nó ( vì nó có tính Dương, mạnh mẽ và có sức hút lớn hơn nhưng văn hóa Á Đông cũng có sức hút đặc biệt của tính Âm, vậy tại sao ta lãng quên nó hoặc chỉ nói mà không khai thác sức mạnh của nó? Nữ chẳng lẽ lại kém hấp dẫn hơn Nam ư?). Tôi chẳng qua nhờ thấy cái hay , cái thâm thúy của cổ nhân mà nghiên cứu , học hỏi và ứng dụng vào lãnh vực trị bệnh cứu người, rồi qua đó dần dà đạt đến chỗ cao sâu hơn. Đó là ĐẠO tức là chỗ MINH TRIẾT, tự làm chủ bản thân mà hài hòa với tự nhiên, khai thác được những mầu nhiệm của Thân và Tâm con người cùng sức mạnh vô cùng to lớn của vũ trụ, của thiên nhiên mà góp phần xây dựng đất nước và con người Việt Nam ngày càng có hạnh phúc, sức khỏe, trí tuệ hơn để thoát khỏi những đau khổ tự thân như là qui luật tự nhiên của Trời Đất.
Hy vọng rằng những điều tôi vừa trình bày sẽ được các bạn thấu hiểu và thực hành nghiêm túc để đừng đi sai đường mà uổng phí cuộc đời và làm hoen ố uy tín cùng danh dự của Việt Y Đạo mà tôi và các môn sinh tốt đã bỏ công xây dựng trong thời gian qua.

GSTSKH BÙI QUỐC CHÂU

(19/2/2012)

Suy Nghĩ về đặc tính dân tộc Việt Nam




Nghiên cứu về tâm lý dân tộc là một việc làm thú vị đối với tôi, nhưng trước hết cũng xin nói rõ bài viết dưới đây không phải là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc về bản tính dân tộc Việt Nam, mà chỉ là một số nhận xét có tính chủ quan....
Trình bầy cũng là một dịp để học hỏi, cho nên tôi sẵn sàng đón nhận những góp ý chân thành của quý vị để cho tôi có dịp thấy những chỗ sai sót và nông cạn của mình mà kịp thời sửa chữa, bổ sung.
 Theo tôi, tính cách của người Việt Nam nói chung có những nét như sau:
  1. Tính vừa phải (chiết trung) không thái quá, không cực đoan.
  2. Tính linh động, mềm dẻo ( không quá cứng nhắc)
  3. Tính độc lập cao, tinh thần bất khuất.
  4. Chuộng thực tế hơn viễn vông (không thích chuyện xa vời)
  5. Thích sự thoải mái, tự nhiên (đặc biệt ở Nam bộ).
  6. Giàu nghị lực (có sức chịu đựng)
  7. Can đảm, mưu trí.
  8. Hiền hòa, nhân hậu, độ lượng, dễ tha thứ, coi trọng tình nghĩa.
  9. Thông minh, hiếu học.
  10. Không quá khích, không hiếu thắng.
  11. Tính lạc quan vui vẻ (hay cười)
  12. Tính bất ổn định do thiếu nội lực
  13. Tự ái cá nhân lớn hơn tự ái dân tộc. Tự ái nhiều hơn tự trọng, hay tự ái vặt.
  14. Tính ăn xổi ở thì, chỉ biết cái lợi trước mắt, không nghĩ đến chuyện lâu dài.
  15. Tính nghệ sĩ (hay bốc đồng)
  16. Kém trí tưởng tượng và sáng tạo, ít sáng kiến, giỏi bắt chước.
  17. Kém tổ chức.
  18. Kém óc phân tích
  19. Thiếu đoàn kết
  20. Trọng hư danh. Ưa nịnh hót
  21. Ít tôn trọng kỷ luật, thiếu nghiêm túc trong công việc
  22. Thiếu tinh thần trách nhiệm
  23. Giàu cảm tính, cảm xúc (nhạy cảm) Sống và làm việc bằng tình cảm hơn là  bằng lý trí (hay sợ mất lòng người khác)
  24. Thiếu tính chân thật, ngay thẳng
  25. Tư đức lớn hơn công đức, óc cá nhân lớn hơn óc xã hội.
  26. Thiếu tính nhẫn nhục (Thiếu tiểu nhẫn nên thường làm hư đại sự)
  27. Thiếu tự tin, nhút nhát
  28. Vọng ngoại (Bụt nhà không thiêng)
  29. Hay có óc cục bộ địa phương.
  30. Óc chiến thuật hơn óc chiến lược
  31. Tính tuỳ tiện, cẩu thả
  32. Lãng phí thời gian và tiền bạc
  33. Tính coi trời bằng vung (không coi việc gì là quan trọng)
  34. Hay đố kỵ, nhỏ nhen, ích kỷ, hay dèm pha nói xấu kẻ khác.
  35. Tính bảo thủ, hay cố chấp, thành kiến.
  36. Tính thích nhàn tản, ham chơi hơn ham làm việc.
  37. Tính thích danh hơn thích làm giàu (không quá coi trọng đồng tiền)
  38. Tính hay bao biện, ôm đồm, không coi trọng chuyên môn.
  39. Tính không rõ ràng, thích nói chung chung.
  40. Tính hay tò mò, tọc mạch, ngôi lê đôi mách
  41. Tính láu cá, khôn vặt, ranh ma
  42. Tính hay thù vặt, hay gây gổ, dễ đánh nhau vì chuyện không đâu.
  43. Thích nói (hay viết) hơn làm.
  44. Thích chỉ huy ( làm đầu gà hơn làm đuôi phụng) nhưng lại kém quản lý.
  45. hay để ý đến tiểu tiết hơn là đại thể.
  46. Thường  thấy gần, ít nhìn xa trông rộng.
  47. Tính thích hưởng thụ ( ăn nhậu, vui chơi…)
  48. Ý thức vệ sinh kém, nhất là vệ sinh công cộng.
  49. Kém ý thức về trật tự công cộng. Nhà cửa thiếu ngăn nắp.
  50. Không đúng giờ, không đúng hẹn.Hay thất hứa.
 Trong những điểm tâm lý nói trên, có thể có một số nét tìm thấy ở các dân tộc khác như người Hoa, người Phi, người Mã Lai… nói chung là không hẳn chỉ có ở người Việt. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tính chất trung bình của những  đặc tính đã nêu ở dân tộc Việt. Có nghĩa là nếu người Việt có tính thiếu kỷ luật hay thiếu tinh thần trách nhiệm thì cũng chỉ ở mức trung bình chứ không quá tệ vì đặc tính nổi bật của người Việt là tính chiết trung (vừa phải). Thứ hai là những nhận xét của tôi nhằm nói đến đặc điểm của số đông, của cộng đồng chứ không nói đến những trường hợp đặc biệt của từng cá nhân mà ở dân tộc nào và lĩnh vực nào cũng có. Thật ra, những nhận xét trên đây còn có thể tìm thấy qua âm nhạc cổ truyền dân tộc, qua nghệ thuật nấu ăn, và qua kho tàng Ca dao, tục ngữ Việt Nam vì nó phản ánh một cách khá trung thực tâm lý dân tộc qua hàng ngàn năm nay.
 Đã từ lâu, tôi nhận thấy sự khác biệt về thể chất cũng như trong cách tư duy của người phương Đông với người phương Tây. Tôi đã đi đến một giả thuyết nhìn nhận rằng có một năng lực vũ trụ vô cùng lớn hình thành nên vạn vật, trong đó có các hành tinh. Cổ nhân Đông Phương gọi đó là Khí. Khí thì có Âm có Dương và luôn vận động nên nó tác động vào các hành tinh cũng dưới dạng Âm Dương. Do đó, nó chi phối trái đất theo nguyên lý sau: Nửa phần phía Tây (bên trái) địa cầu thuộc Dương, nửa phần phía Đông (bên phải) địa cầu thuộc Âm. Nửa phần phía Bắc (phần trên) địa cầu thuộc Dương, nửa phần phía Nam (phần dưới) điạ cầu thuộc Âm. Phía Tây, kể từ nước Hy Lạp qua đến nước Mỹ, còn phía Đông kể từ nước Thổ Nhĩ Kỳ và các nước vùng trung Đông đến vùng Viễn Đông như Nhật Bản, Nam Dương quần đảo (Indonesia) Còn phía Bắc gồm các nước ở trên đường xích đạo như Phi Châu thuộc phía Nam. Qua cách phân bổ vô hình này của vũ trụ, ta thấy các nước thuộc phía Tây và ở phương Bắc thì rất cương cường, hiếu thắng vì thuộc Dương. Còn các nước ở phía Đông và phía Nam thì hiếu hòa hơn và cũng Âm tính hơn vì thuộc Âm. Từ đó sinh ra một số tính chất rất tự nhiên về mặt tâm sinh lý của người dân sinh sống đã lâu trên các phần lãnh thổ đó.

 Điều lý thú là quy luật Âm Dương này cũng phân bổ cho từng nước tương tự thanh nam châm luôn có hai đầu khác nhau. Hễ đầu này Âm thì đầu kia Dương, nếu ta bẻ gãy thanh nam châm thì hai mảnh nam châm cũng sinh ra hai đầu khác nhau như thanh nam châm lớn. Tương tự như thế ở từng nước, phía Bắc thường có nhiều Dương Tính hơn phía Nam, do đó người phương Bắc (cư dân bản  địa) thường cương cường, hiếu thắng, thích vật chất hơn là người phương Nam. Điều này ta có thể nhận thấy ngay chính ở dân tộc Việt Nam ta với cá tính của 3 miền có rất nhiều điểm phù hợp với quy luật trên.
Ví dụ: Người miền Bắc và Bắc Trung bộ đa số đều siêng năng, năng động và cương cường, hiếu thắng (ba phần Dương, hai phần Âm) và thích hình thức, có tính phô trương hơn đa số người miền Nam và Nam Trung bộ (3 phần Âm, 2 phần Dương) .
 Chúng ta cũng có thể tìm thấy những điều tương tự như vậy ở các quốc gia và dân tộc khác như ở nước Pháp, dân bản địa Paris tức là người phía Bắc có cá tính mạnh mẽ, khéo léo và thích phô trương hơn dân ở Marseille có tính chất phác bộc trực, cởi mở như tính người miền Nam Việt Nam. Tất nhiên, việc hình thành các cá tính của từng dân tộc hay mỗi miền còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác nữa như yếu tố về địa lý gồm khí hậu, thổ nhưỡng, sản vật, thức ăn, nước uống hay các yếu tố về xã hội, lịch sử và yếu tố về di truyền. Nhưng những điều vừa nêu trên chỉ là phần Hậu thiên, còn phần Tiên thiên phải nói đến sự phân bố tự nhiên của vũ trụ mà tôi vừa trình bày.
 Các điều vừa đề cập đến tạm cho là hợp lý, nhưng sẽ có người nói rằng tại sao Úc (Australia) lại thuộc về Đông Phương mà dân Úc lại không có tính cách  như các dân tộc Đông phương khác? Xin thưa, dân Úc châu ngày nay chủ yếu là dân Anh quốc di cư sang, bên cạnh đó là các dân Châu Âu khác, sau này mới thêm các dân tộc Châu Á, cho nên không phù hợp với nguyên lý trên vì họ không phải là dân bản địa thuần tuý, tức là dân đã sinh sống ở đó từ hàng nghìn năm về trước. Nhưng nếu họ ở lâu đến hàng trăm nàng nghìn năm sau thì chắc chắn cá tính sẽ thay đổi, không giống với dân chính gốc)  Tương tự dân Nam bộ tuy cũng từ miền Bắc hay miền Trung di dân vào, nhưng sau vài trăm năm ai cũng thấy cá tính người Miền Nam có rất nhiều điểm khác biệt ở người Bắc hay người Trung.
 Nói chung, các nước ở vùng nhiệt đới (xứ nóng) ở gần Xích đạo thì kém Dương khí, có thể nói là Âm hơn các nước ở ôn đới (xứ lạnh) luôn có nhiều Dương khí hơn. Nước Việt Nam ở gần Xích đạo nên so với Trung Quốc, Hàn Quốc hay Nhật Bản thì kém Dương hơn, do đó vóc người và xương cốt nhỏ nhắn hơn, cá tính cũng ôn hòa hơn, không quá khích như các dân tộc trên. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào sự phân bố vào sự phân bổ của đồ hình Thái Cực trên. Việt Nam thuộc dạng không quá Âm hay quá Dương mà ở mức trung bình. Do đó tính khí người Việt tương đối quân bình, từ đó suy ra các đức tính khác của dân tộc ta.
 Để hiểu rõ hơn tính cách của các dân tộc xét theo quan điểm Âm Dương, tôi xin liệt kê các yếu tố Âm Dương sau đây:
  1. Âm: yếu đuối, hiền hòa, chất phác, thụ động, thiên về tư tưởng, những gì thuộc vô hình hơn là hữu hình, nên chuộng khoa học tâm linh, chuộng triết học hơn là khoa học kỹ thuật, cơ khí.
  2. Dương: mạnh mẽ, dữ tợn, năng động, thiên về vật chất, những gì hữu hình hơn là vô hình. Cho nên chuộng khoa học kỹ thuật, cơ khí hơn là khoa học tâm linh.
 Tuy nhiên, thế giới ngày nay đang nối kết làm một. Hai khối Đông – Tây đều ảnh hưởng lẫn nhau cho nên không còn bản chất nguyên thuỷ như vừa trình bầy. Phương Đông cũng dần dần chuộng và áp dụng khoa học kỹ thuật của phương Tây mà trước đó mình chưa có, chưa biết và phương Tây cũng đã học hỏi tinh thần triết học phương Đông như Phật giáo, Thiền (Zen) khổng giáo, Lão giáo… mà trước đó họ không có.
 Khi đã nắm vững và thống nhất các điều cơ bản về Âm Dương nói trên, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra dân tộc ta thiên về Âm tính  nhiều hơn là Dương tính. Đó là nguyên lý căn bản trong Đông y mà nhiều người đã biết. Ngoài ra cũng cần nên biết, trong Âm bao giờ cũng có Dương và trong Dương bao giờ cũng có Âm. Do đó nếu nói dân tộc ta thuộc Âm, điều đó cũng có nghĩa là dân tộc ta có phần Thiếu Dương ở bên trong (vì trong Thái Âm luôn có Thiếu Dương tiềm ẩn) tức là bên ngoài thì mềm (Âm) mà bên trong thì cứng (Dương).
 Cho nên khi dân tộc ta có tính Âm nhiều hơn Dương, điều đó cũng có nghĩa là đường hướng chúng ta trong tương lai sẽ phải tăng cường phần Dương lên để quân bình Âm – Dương thì sẽ trở nên vững mạnh và mới phát triển tốt được.
Cần lưu ý là Âm hay Dương đều có mặt tích cực và tiêu cực của nó. Cho nên trước hết, tôi nói về mặt tiêu cực của dân tộc ta, sau đó tôi sẽ nói về mặt tích cực trên cơ sở giả định là dân tộc Việt Nam thuộc Âm (nói cách khác là mang nhiều tính Âm)
  1. Ở Việt Nam, đàn ông hầu hết đều đi xe máy của nữ. Chúng ta sử dụng nó một cách tự nhiên vì nó hạp với bản tính của chúng ta. Điều này ở các nước Tây phương (nhiều Dương hơn) ít thấy. Vì đàn ông của họ thường đi xe phân khối lớn dành cho nam giới, họ không sử dụng xe honda hay xe tay ga mà họ cho là của phụ nữ.
  2. Dân mình hay ăn uống, đó cũng là tính cách của đàn bà, quá nhiều quán xá, nhà hàng từ nhỏ đến lớn kể cả các quán cóc vỉa hè và lúc nào cũng có người ăn uống. Ai cũng biết, đàn bà hay ăn vặt hơn đàn ông, cho nên đây cũng là biểu tính của phụ nữ.
  3. Dân mình làm gì cũng bé tí, ít thích những gì khổng lồ, to đùng khác với dân Mỹ, vì tính rất Dương nên thường thích những cái to đùng, vĩ đại. Từ đó, người Việt thường thích buôn bán nhỏ, suy nghĩ nhỏ, ước muốn, cất nhà, làm tượng đài, kế hoạch đều nho nhỏ.
  4. Dân mình hay để ý và câu nệ, chấp nhất những cái vụn vặt, tủn mủn…cho nên nhiều khi quên cái lớn (Tiểu tiết làm hỏng đại sự) Cho nên thường thì chuyện lớn dễ bỏ qua nhưng chuyện nhỏ lại quyết không tha. Đây cũng là thuộc tính của nữ, vốn dĩ rất vị tha nhưng cũng dễ sa vào tiểu tiết  để trở nên khó chịu, nhỏ mọn, chấp nhất.
  5. Dân mình hay đố kỵ, xuất phát từ lòng ganh tỵ do đó hay móc chuyện thiên hạ …hay dèm pha, nói xấu kẻ khác. Đây cũng là thuộc tính của phụ nữ hay ngồi lê đôi mách hơn đàn ông.
  6. Dân mình ít nghĩ xa, tầm chiến lược thường ngắn hạn, không thích bàn chuyện viễn vông, xa vời mà thích thực tế ngay trước mắt. Đây cũng là tính cách của nữ. Có thể ví von: Đàn ông là đèn pha, đàn bà là đèn code, nhìn gần thì rõ, nhìn xa thì mờ. Do không thích những kế hoạch dài hạn nên đưa đến tính ăn xổi, ở thì.
  7. Dân tộc ta có tính hay thay đổi, trên báo chí thỉnh thoảng vẫn đăng tải ý kiến của các doanh nhân nước ngoài là kế hoạch làm ăn của ta thường thay đổi xoành xoạch khiến họ không biết đường đâu mà lần. Đây cũng là thuộc tính của nữ, vì nữ bản tính mềm yếu, hay thay đổi, dễ nghe lời người khác nên có câu: “cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha”
  8. Dân Việt thường ít có thái độ rõ ràng, dứt khoát, cụ thể (hay nói nước đôi) Trong làm ăn cũng như trong xử thế, thường như vậy khiến các đối tác rất khó làm việc. Đây cũng là một đặc tính của nữ, thường ít khi trả lời rõ ràng về một vấn đề (muốn hiểu sao cũng được) nhất là trong lĩnh vực tình cảm.
  9. Ít tự tin, kém sáng tạo mà lại ha vong ngoại, giỏi bắt chước hơn sáng chế. Điển hình là gần đây, thanh niên nam nữ đua nhau bắt chước cách ăn mặc và sinh hoạt kiểu Hàn Quốc. Cho nên HSSV Việt Nam thường học giỏi nhưng lại ít có phát minh.
  10. Đa số dân mình hay suy nghĩ và làm việc theo cảm tính, ít theo lý trí. Đây cũng là một đặc điểm của nữ giới.
 Trên đây là xét về mặt tiêu cực của tính Âm, còn về mặt tích cực thì dân ta cũng lắm điều hay như:
-       Tính nhẫn nại, chịu đựng cao, cũng là thuộc tính của nữ giới.
-       Tính bao dung, hay tha thứ
-       Tính khéo léo, linh động trong giao tiếp, ứng xử.
 Ta co thể nêu ra thêm một số mặt tích cực nữa của tính Âm, nhưng thiết tưởng bây nhiêu đó cũng đã cho ta thấy rõ dân Việt bản chất thiên về Âm nhiều hơn là Dương (chứ không phải là không có Dương tính vì trong Âm bao giờ cũng có Dương: Âm trung hữu Dương căn)
 Những luận cứ  và nhận định trên đây của tôi nhằm giúp cho chúng ta hiểu rõ mình là ai, như thế nào để dễ dàng phát huy những ưu điểm, khắc phục hay hạh chế khuyết điểm. Như thế không có gì đáng ngại mà trái lại còn giúp cho dân tộc ta phát triển mạnh hơn.  Vì ta sẽ phát triển trên cơ sở chọn lọc những gì hợp với bản chất, cơ địa của mình. Như trong việc đào tạo các võ sinh của các vị thầy hồi xưa là căn cứ vào thể hình và tính khí của môn sinh mà dạy cho họ môn võ phù hợp.
Vídụ: Đối với người nhỏ con mà lanh lẹ thì dạy Hầu quyền, đối với người cao gầy thì dạy hạc quyền, với người mạnh mẽ, vạm vỡ thì dạy Hổ quyền, Hồng Gia quyền…Hoặc người nhỏ con, yếu sức thì học Aikido hay Judo tốt hơn là học Karaté hay Taekwando.
 Cho nên, sau khi đã xác định bản tính hay khuynh hướng của dân tộc ta là Âm tính, thì ta sẽ có các chương trình, kế hoạch xây dựng, phát triển đất nước theo hướng phù hợp với bả tính và địa hình của đất nước ta. Vì sẽ rất sai lầm và đi vào chỗ bất thuận lợi khi ta định hướng phát triển như các nước khác vốn có tính Dương nhiều hơn ta, và địa hình của quốc gia họ cũng khác ta. Cụ thể hơn, ta có thể định hướng học tập, nghiên cứu xây dựng phát triển về ngành y học (Y học dân tộc và y học hiện đại) nhất là về ngành vi phẫu thuật, tai mũi họng, tim …hay giải phẫu thẩm mỹ, cũng như các lĩnh vực dưỡng sinh, công nghệ thông tin (IT) du lịch, dịch vụ, văn chương, nghệ thuật… các hoạt động về tiểu thủ công nghiệp như gốm sứ, thêu thùa, may mặc thay vì đầu tư vào các ngành công nghệ nặng, về cơ khí … Chúng ta cũng nên tập trung vào các loại hình thể thao nhẹ như cầu lông, bóng bàn, cơ vua thay vì tập trung cho bóng đá, quần vợt … vì những loại hình này thuộc Dương, đòi hỏi nhiều thể lực thích hợp với các dân tộc Dương tạng như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản hay các dân tộc Âu Mỹ hơn là dân tộc ta.
 Có lẽ chúng ta không nên buồn vì biết dân tộc ta thuộc Âm, nếu các bạn đồng ý với quan điểm của tôi vì Âm không phải là xấu mà Dương cũng không phải là hay, nếu xét về phạm trù Âm – Dương thì cả hai đều có giá trị ngang nhau, và đều có mặt mạnh lẫn mặt yếu. Vần đề ở đây là cần nhận biết rõ, ta là ai ? ta như thế nào ? Để xây dựng đất nước cho tốt đẹp và phát triển nhanh chóng hơn nếu chúng ta không có những nhận định sai lệch về mình. Cho nên khi nắm rõ điều này , ta sẽ định hướng đúng trong việc xây dựng đất nước, như thế sẽ làm cho đất nước ta tiến bộ rất nhanh. Vì ai cũng biết, cái gì hợp thì sẽ mau có kết quả lâu bền và trái lại.
Trong việc làm ăn buôn bán, chữa bệnh, ăn uống cũng nhu quan hệ vợ chồng, ai cũng thấy rõ điều này.
GS. TSKH Bùi Quốc Châu


HÃY CHÚ Ý ĐẾN SỨC KHOẺ CỦA MÌNH



Ngày nay, với sự tiến triển của khoa học, có nhiều thứ được chế tạo bằng hoá chất nhân tạo thay thế cho các chất liệu từ thiên nhiên, để cung ứng kịp cho nhu cầu tiêu thụ.

Về phương diện hoá học sẽ khiến cơ thể con người không thể hấp thụ được (về  thực phẩm). Mà những gì không hấp thụ được nó sẽ là chất độc gây cho cơ thể những nuy cơ. Điều này sẽ tạo ra nhiều cặn bã  trong máu nằm bám vào thành của các mạch máu, khiến cho sự tuần hoàn huyết  lưu thông khó khăn khiến có sự phản hồi về tim hay những vùng tại các cơ quan máu không tới đủ  khiến tim phải vận động nhiều để đem máu tới nuôi nên gây ra mệt tim. Cho nên ngày nay có nhiều người mắc phải bệnh tim mạch. Như đã biết, bệnh gì  cũng  có sự báo trước, nhưng đa số không quan tâm đến vì những dấu hiệu thường không nghiêm trọng khiến mọi người xem thường và bỏ qua, nên khi bệnh phát triển khiến trở tay không kịp. Các bệnh thường  có các triệu chứng như:
Người hay có triệu chứng khó tiêu hay bị sình bụng no hơi, lúc ấy thường thấy tim đập nhanh , đau vùng ngực, hay bị buốt tê cánh tay phải hoặc trái - Thỉnh thoảng hay bi tê rần cánh tay hay bàn tay có khi buốt nhói sau khi tắm hay ngồi nơi có quạt hay máy lạnh sau khi một giấc ngủ vào buổi sáng. Nước tiểu thường có màu vàng hay có mùi khai nặng. Về chiều hay có chứng nóng người, phừng nóng mặt đỏ đến tối thì lại hết.Đi lên cao như thang lầu, lên núi thì tim đập loạn nhịp Sau một hồi vận động, tay hoặc chân thấy tê. Da dẻ hay sần sùi nổi mụn nhọt, da không mịn màng. Các triệu chứng này thường chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện trừ bệnh mệt tim là rõ ràng nhất.
Những bạn trẻ khoẻ thường bỏ qua không chú ý, đến lúc hội đủ điều kiện đưa đến cơ thể suy yếu, tim mệt đuối không đủ bơm máu, và thành các mạch máu bị cặn bã nghẹn nhiều, thì các mạch nhất là ở chi tay chân bị tê liệt vì không đủ máu nuôi sẽ sinh ra chứng bán thân bất toại. Các mạch máu nhỏ ở não sẽ dễ bị căng đứt sinh ra tai biến mạch máu não, sẽ gây ra hôn mê rất nguy hiểm, nếu không được trị gấp có thể tử vong.
Trong Diện Chẩn -ĐKLP thì chúng ta có thể trị liệu như sau:
Xoa bóp chân tay nơi bị tê theo chiều từ trên hướng ra các đầu ngón tay, ngón chân cho đến khi hết tê. Thường xoa ấn hai huyệt 50 và 39 ( huyệt 50 tác động gan và mật lọc chất độc trong máu, huyệt 39 giúp cơ thể chọn lọc chất hấp thu cần thiết cho cơ thể tạo ra chất máu tốt trao đổi với can để giải độc trong máu). Tiếp đó có thể day ấn thêm huyệt 64, để hệ biến dưỡng của tiêu hoá lọc đi những chất béo gây ra các hiện tường béo phì ,máu có mỡ, mạch máu bị nghẽn hoá xơ cứng gây ra huyết áp. Cũng nên thường day ấn huyệt 100 để tuần hoàn huyết lưu thông không gây huyết áp ở não. Lại cũng thường day ấn huyệt 11, vì huyệt này giúp cho mạch máu được mềm dẻo khó bị đứt.
Cùng với việc trị liệu đó về sinh hoạt nên ăn chất dễ tiêu, nên ăn đúng giờ không nên ăn tối  quá trễ rồi đi ngủ, không nên dùng các thức ăn đóng hộp không tươi, các loại rượu có độ cồn mạnh. Được như thế thì cơ thể mới khoẻ mạnh, ít bị nhiễm độc , ít bị bệnh và sống lâu. Đây cũng là một biện pháp dưỡng sinh của thời đại.
HÌNH ÍCH VIỄN


Trích sách KỶ YẾU 20 NĂM DIỆN CHẨN - ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP

Diện Chẩn - Niềm tự hào của người Việt Nam



Ngày chủ nhật (26.3.2000), trên báo Sài gòn giải phóng số 8159 đăng một đoạn tin ngắn đóng khung với tựa đề “Tin vui” cùng với bản photocopie bằng Tiến sĩ khoa học danh dự Doctor of science Honoris Causa) của trường Đại Học mở quốc tế về Y học bổ sung (the open international University for Complementary Medicine) ở Colombo (Sri-Lanka) trao tặng cho Bùi Quốc Châu – tác giả phương pháp chữa bệnh mới Diện Chẩn - Điều khiển Liệu Pháp.
Đây là công trình sáng tạo độc đáo, là phương pháp y học dân tộc Việt Nam hiện tại không phải cổ truyền mà tôi - một nhà báo chuyên nghiên cứu Diện Chẩn và Y học nhân văn từ gần 20 năm nay đã có dịp giới thiệu phương pháp này trên tờ Báo Ảnh Việt Nam số tháng 10/1981 in nhiều ngoại ngữ. Tôi cứ suy nghĩ mãi không hiểu sao một tờ báo “khó tính” như tờ Sài Gòn Giải Phóng, đối diện với DC lại đăng tin này với cái “Tít” rất mới và lạ “Tin vui”. Thực tế thì báo Sài Gòn Giải Phóng thường xuyên giới thiệu các nhà khoa học Việt Nam thuộc các chuyên ngành trong đó có các nhà y học, nhưng dùng hai chữ “tin vui” là ‘tít” thì tôi chưa thấy.
Tin vui phải chăng đây là điềm lành báo trước cho phương pháp DC dang đôi cánh thần kỳ bay xa hơn trên trường Quốc tế. Tôi mạn phép xin cảm ơn báo Sài Gòn Giải Phóng dù chỉ hai từ mang tính xã giao. Vì lẽ hai từ “tin vui” mới nói hết được nỗi chờ mong và hy vọng của chúng tôi - những người tâm huyết với DC. Không biết có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tin này được đăng vào ngày 26/3 vào ngày mà cách đây 20 năm (26/03/1980), nhà nghiên cứu trẻ tuổi Bùi Quốc Châu đầu tiên khảo sát và tìm ra huyệt số 1 trên bệnh nhân Trần Văn Sáu tại trại cai ma tuý Fatima (Bình Triệu - Thủ Đức). Ngày 26/03 được lấy làm ngày kỷ niệm phương pháp DC ra đời. Lấy ngày 26/3 làm ngày kỷ niệm tác giả muốn nói với mọi người rằng chính Trại Fatima nơi anh làm công tác cai nghiện ma tuý đầy gian truân và thử thách nhưng để lại trong anh rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Chính vì vậy mà anh gọi Fatima là miếng đất màu mỡ để “hạt DC” nẩy mầm, còn Trung tâm Việt Y Đạo 19B Phạm Ngọc Thạch, Q3, TPHCM là “bầu sữa” nuôi “Cây DC” ra hoa và kết trái.
DC – 20 năm chặng đường đầy sóng gió nhưng sóng càng to, gió càng lớn thì cây DC càng ăn sâu và bám chắc vào lòng Đất Mẹ Việt Nam. Để giờ đây phương pháp không chỉ đi vào cuộc sống đời thường của người Việt Nam mà còn có tiếng vang trên trường Quốc tế. Câu lạc bộ DC Dưỡng sinh Hà Nội và Tp. HCM tiêu biểu cho phong trào “biến bệnh nhân thành thầy thuốc - biến ngừơi bệnh thành người chữa bệnh” hoạt động không ngừng đã quy tụ được đông đảo các thành phần trong xã hội đến học, nghiên cứu, trao đổi phương pháp DC. Họ là những công nhân viên, cán bộ, kỹ sự, bác sĩ, lương y,nhà khoa học, học sinh, người nội trợ.. đượng mang cái tên “thầy thuốc nhân văn” chữa bệnh từ thiện cứu người, cứu mình. tưởng cái tên như vậy còn gì cao quý và nhân đạo hơn.
19B Phạm Ngọc Thạch – Nơi trung tâm Việt Y Đạo hàng ngày còn đóng những tin vui từ khắp miền đất nước và những “thầy thuốc nhân văn” bay về. Cũng chính nơi đây vào ngày 6.4.2000 Lương Y Nguyễn Văn Đồng ở Mỹ báo tin vui : Tiểu ban Washington đã chính thức công nhận và cấp giấy cho phép Hội DC – ĐKLP Spokane ra đời và hoạt động. Hội DC ra đời ở Mỹ, tôi tin rằng rồi đây các Hội DC ở Cuba, Nga, Pháp, Đức, Ba Lan, Canada.. cũng sẽ ra đời vì đệ tử của anh đã có mặt ở các nước đó với cộng đồng Việt Nam. Còn tác giả Bùi Quốc Châu và cộng sự đã đi nhiềunước và còn đi nhiều nữa kể từ sau ngày anh nhận bằng Tiến sĩ khoa học danh dự để truyền bá phương pháp DC, truyền bá văn hoá Việt Nam, y học nhân văn Việt Nam.
Dù muốn hay không DC đã thật sự là phương pháp chữa bệnh của Việt Nam do người Việt Nam sáng tạo ra sẽ cũng với một số phương pháp y học dân tộc khác sớm muộn sẽ hình thành nền Việt Y mà cơ sở của nền y học này theo tôi, DC phải được lấy làm nền tảng. Vì DC có lý thuyết ở trình độ cao đủ sức thuyết phục và các giải pháp của DC trong điều trị thường cao hơn các phương pháp y học cổ truyền.
Chúng tôi trong nhóm nghiên cứu DC tại trung tâm Việt Y Đạo do tiến sĩ BQC sáng lập, mỗi người mỗi góc độ khác nhau để đi vào nghiên cứu. Người xuất phát từ Tây y như BS Võ Khôi Bửu, người từ Đông y châm cứu như Lương y Tạ Minh, Hình ích Viễn, Đào Trường Khánh, Đồng Xuân Toán, Phạm Văn Nhâm, Nguyễn Văn Đồng.. Còn tôi với một số anh em khác như Lý Phước Lộc, Trần Dũng Thắng, Nguyễn Đăng Xiêng lại từ DC nghiên cứu DC. Tôi tin rằng DC được nghiên cứu ở nhiều gốc độ khác nhau sẽ phong phú, đa dạng thêm về lý thuyết và thực tiễn điều trị trên con đường phát triển. 20 năm tồn tại của DC đã chứng minh một cách sinh động điều tôi vừa trình bày.
Nhân kỷ niệm 20 năm phương pháp DC ra đời, chúng tôi thay nhóm nghiên cứu, những người tâm huyết với DC ghi ơn đất nước Việt Nam văn hiền đã sản sinh ra một con người là BQC cùng với phương pháp DC phương pháp y học dân tộc Việt Nam hiện đại rất độc đáo làm nổi bật cái tên Việt Y (y học Việt Nam) trong nền y học bổ sung của nhân loại. Thiết nghĩ đó là niềm tự hào chính đáng không chỉ của riêng tôi mà là của mỗi người Việt Nam tâm huyết nói chung.

GSTSKH Bùi Quốc Châu